Điện Biên Phủ 1954 ChaptersCác chương SourcesTài liệu
Chapter 5 · The War of Supply · IIChương 5 · Cuộc chiến hậu cần · II

A Nation on the RoadCả dân tộc ra trận

Trucks, pack bicycles and river convoys: a whole nation moves the battle forward.Ô tô, xe đạp thồ, thuyền bè: cả dân tộc dồn sức cho tiền tuyến.

0:00

Narrated in English · subtitles onPhim thuyết minh tiếng Anh · có phụ đề tiếng Anh

Listen to this chapterNghe toàn chương (tiếng Anh)Read aloud · 12 minĐọc bằng tiếng Anh · 12 phút

To seize the initiative in the logistical war, the Vietnamese command took strategic steps to control, and eventually blockade, the "umbilical cord" of the fortified complex - Mường Thanh airport. The reduction and cessation of the airport's operations not only decreased the capacity of incoming supply shipments to 30-50% compared to before, it eliminated the ability to evacuate the wounded and damaged equipment, and significantly reduced the close air support firepower on the battlefield. When the airport was paralyzed, the five SO30P reconnaissance aircraft, which were the main force guiding the bombers, were neutralized. In this situation, only the B-26 bombers and PB4-Y2 Privateer aircraft were equipped with modern devices to clearly detect targets on their own. Furthermore, Bearcats fighter aircraft could only be deployed to take off and land right at Điện Biên Phủ because their tactical radius of 250 km did not allow them to fly from Hà Nội, which was 300 km away. Losing this airport was synonymous with eliminating tactical support aircraft from the battle.

Dành quyền chủ động trong cuộc chiến hậu cần, bộ chỉ huy Việt Nam đi những bước chiến lược để khống chế, tiến đến phong tỏa cái “cuống rốn” của Tập đoàn cứ điểm - sân bay Mường Thanh. Sân bay giảm và ngừng hoạt động không chỉ làm giảm khả năng tiếp vận hàng đến xuống còn 30-50% so với trước, làm mất khả năng đưa thương binh, khí tài hỏng đi và làm giảm đáng kể hỏa lực hỗ trợ của không quân trên chiến trường. Khi sân bay tê liệt thì năm máy bay trinh sát SO30P là lực lượng chính để hướng dẫn máy bay oanh tạc bị vô hiệu hóa. Trong tình huống này, chỉ còn máy bay ném bom loại B - 26 và máy bay PB4-Y2 Privateer mới có trang bị thiết bị hiện đại để tự phát hiện rõ mục tiêu. Ngoài ra, máy bay chiến đấu Bearcats chỉ có thể bố trí để cất và hạ cánh ngay tại Điện Biên Phủ vì bán kính chiến thuật 250 km của chúng không cho phép bay được từ Hà Nội xa 300 km. Mất sân bay này cũng đồng nghĩa với việc loại khỏi vòng chiến các máy bay yểm trợ chiến thuật.

Faced with that situation, the US President had to urgently send to Indochina an additional 10 B-26 bombers and 200 technicians to maintain their operations. However, the modern French and American aviation command apparatus proved less flexible than the tactics of the Vietnamese peasant soldiers. The cycle of reconnaissance - organizing operations - assessing attack results took too long compared to the enemy's changes. Modern communication equipment did not help the air force improve their bombing effectiveness32.

Trước tình hình đó, Tổng thống Mỹ phải gửi gấp đến Đông Dương thêm 10 máy bay ném bom B -26 và 200 kỹ thuật viên để duy trì hoạt động của chúng. Tuy nhiên bộ máy điều hành hàng không hiện đại của Pháp Mỹ tỏ ra kém linh động hơn chiến thuật của những người lính nông dân Việt Nam. Chu kỳ trinh sát - tổ chức hoạt động - kiểm tra kết quả tấn công diễn ra quá dài so với thay đổi của đối phương. Các thiết bị truyền thông hiện đại không giúp lực lượng không quân nâng cao được hiệu quả ném bom32.

Aircraft shot down over the Điện Biên battlefield
Aircraft shot down over the Điện Biên battlefieldMáy bay bị bắn rơi trên chiến trường Điện Biên

With the extraordinary efforts above, throughout the campaign since the preparation phase, in all weather conditions and under fierce bombing, the transport forces of the Vietnam People's Army only allowed the roads to be blocked in certain sections for a total of 37 nights29. Navarre remarked: "The Viet Minh deployed the necessary civilian porters near key points that were frequently attacked so they could repair the road immediately after it was cut. All efforts by the air force to impede road repairs were futile. Rarely was any road section cut for more than 24 hours. Moreover, during the time it was cut, transportation still continued by transshipping via other bypasses"1. While the road repair forces fought tenaciously, the transport forces serving the campaign operated continuously on both the rear and campaign lines. The entire motorized force of the Vietnam People's Army at that time consisted of 6 companies with 534 transport trucks, all mobilized for the campaign. The rear line of the General Directorate and the frontline supply councils of the inter-zones utilized 7 companies, with 182 trucks, peaking at 237 trucks (due to trucks from the campaign line falling back). The campaign line utilized 9 companies, 352 trucks, and at times was reinforced with 94 trucks from artillery and anti-aircraft units.

Với những nỗ lực phi thường trên, trong suốt thời gian chiến dịch kể từ lúc chuẩn bị trong mọi thời tiết và bom đạn ác liệt, lực lượng giao thông của quân đội nhân dân Việt Nam đã chỉ để đường bị tắc ở một số đoạn trong tổng số 37 đêm29. Nava nhận xét: “Việt minh đã triển khai lực lượng dân công cần thiết ở gần trọng điểm hay bị đánh phá đế có thể sửa đưòng ngay sau khi bị cắt đứt. Tất cả những nỗ lực của không quân để ngăn trở việc sửa đường đều vô hiệu. Hiếm có đoạn đường nào bị cắt đứt quá 24 giờ. Hơn nữa thời gian bị cắt đứt việc vận chuyển vẫn được tiếp tục bằng chuyển tải đường vòng khác”1. Trong khi lực lượng sửa đường chiến đầu kiên cường, lực lượng vận tải phục vụ chiến dịch liên tục hoạt động ở cả hai tuyến hậu phương và chiến dịch. Toàn bộ lực lượng cơ giới của quân đội nhân dân Việt Nam lúc đó có 6 đại đội với 534 xe ô tô vận tải đều được huy động phục vụ chiến dịch. Tuyến hậu phương của Tổng cục và hội đồng cung cấp mặt trận các liên khu sử dụng 7 đại đội, 182 xe, lúc cao nhất là 237 xe (do xe của tuyến chiến dịch lui cung về). Tuyến chiến dịch sử dụng 9 đại đội, 352 xe, có thời gian được tăng cường thêm 94 xe của các đơn vị pháo binh và phòng không.

The total number of trucks mobilized from both the military and civilian sectors was 628 trucks and over 800 drivers29. The General Directorate's forward headquarters and the General Directorate in the rear coordinated closely in directing transportation to supply fuel, oil, and replacement parts. Depending on the availability of goods, road conditions (due to enemy bombing), and transport means, sometimes the rear line extended forward, and sometimes the campaign line withdrew rearward. The emulation movement to exceed distances, increase trips, save fuel, and maintain trucks in good condition was vibrant across the units6. Điện Biên Phủ was the first campaign where motorized vehicles played the primary role in transportation. The summary results showed that over 90% of the transport volume ensuring the campaign was handled by motorized transport13.

Tổng số xe ô tô được huy động của cả quân đội và dân chính là 628 xe và hơn 800 lái xe29. Tiền phương Tổng cục và Tổng cục ở hậu phương phối hợp chặt chẽ với nhau trong chỉ huy vận tải trong việc cung cấp xăng, dầu, phương tiện thay thế. Tùy điều kiện chân hàng, đường sá (do địch đánh phá) và phương tiện, có lúc hậu phương vươn tuyến ra phía trước, có lúc chiến dịch lùi cung về phía sau. Phong trào thi đua vượt cung, tăng chuyến, tiết kiệm xăng dầu, giữ gìn xe tốt sôi nổi ở các đơn vị6. Điện Biên Phủ là chiến dịch đầu tiên xe cơ giới đóng vai trò chính trong vận tải. Kết quả tổng kết cho thấy trên 90% khối lượng vận chuyển bảo đảm cho chiến dịch là do vận tải cơ giới đảm nhiệm13.

The young Vietnamese anti-aircraft troops became a major threat to the French-American air forces
The young Vietnamese anti-aircraft troops became a major threat to the French-American air forcesBộ đội cao xạ non trẻ Việt Nam đã trở thành mối đe dọa to lớn cho lực lượng không quân Pháp-Mỹ

Alongside motorized transport, many overland transport lines using civilian porters and rudimentary means were organized from the rear to the front. Counting pack bicycles alone, there were over 20,000 units (18,491 on the rear line, 2,500 on the campaign line). To quickly transport rice starting from Phòng Tô down to Lai Châu, the Nậm Na river had to be used; over 100 km long, it featured a fierce stretch from Bản Nậm Cúm to Patăng that was only about 20 km long but full of rapids and a narrow riverbed, ready to smash and submerge anything on the river. To move thousands of tons of rice from Bản Nậm Cúm through Lai Châu to Điện Biên, the rapids had to be blasted and civilian porters were brought up to build ten thousand rafts to transport the rice to Lai Châu by river. Phan Tư's engineering platoon immersed themselves in the water during the Northwest winter, using explosives to blast nearly 100 rapids.

Cùng với vận tải cơ giới, nhiều tuyến vận tải bộ bằng dân công và phương tiện thô sơ đã được tổ chức từ hậu phương lên mặt trận. Chỉ tính riêng xe đạp thồ đã có hơn 20.000 chiếc (tuyến hậu phương 18.491, tuyến chiến dịch 2.500 chiếc). Để đưa nhanh gạo từ Phòng Tô bắt đầu về Lai Châu phải dùng dòng sông Nậm Na, dài hơn 100 km có đoạn sông dữ từ Bản Nậm Cúm đến Patăng chỉ dài chừng 20 km nhưng rất nhiều thác, lòng sông hẹp sẵn sàng đập tan và nhấn chìm mọi thứ trên sông. Để đưa hàng ngàn tấn gạo từ Bản Nậm Cúm qua Lai Châu về Điện Biên phải phá thác và đưa dân công lên đóng một vạn cái mảng để đưa gạo về Lai Châu bằng đường sông. Trung đội công binh của Phan Tư đã dầm mình dưới nước giữa mùa đông Tây Bắc dùng mìn phá gần 100 cái thác.

The transportation of rice on the river from Bản Nậm Cúm to Pa Tầng was assigned to the female civilian porter company of Thanh Thuỷ district, Phú Thọ, who built 11,600 rafts29. Initially, 4 people were in charge of one raft, carrying 1.2 to 1.5 quintals, taking 2 days downstream to deliver the goods at Pa Tầng, and 1 day walking back upstream to Bản Nậm Cúm, with a productivity of 10 kg/person/day. The number of people in charge of a raft was reduced to 2, then 1 person, the load on each raft was raised to 3 quintals, and the time was shortened to one trip per day, both round-trip; thanks to this, nearly 2,000 tons of rice were delivered to Lai Châu ahead of schedule.

Việc chuyển gạo trên sông từ Bản Nậm Cúm về Pa Tầng được giao cho đại đội dân công gái huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ đóng 11.600 bè mảng29. Lúc đầu, 4 người phụ trách một mảng, chở 1,2 đến 1,5 tạ, mất 2 ngày xuôi về giao hàng ở Pa Tầng, 1 ngày đi bộ ngược trở lên Bản Nậm Cúm, năng suất 10 kg/ người/ngày. Số người phụ trách một mảng rút xuống 2 rồi 1 người, mỗi mảng nâng lên 3 tạ và thời gian rút ngắn lại, mỗi ngày một chuyến, cả đi và về, nhờ vậy đã đưa gần 2.000 tấn gạo về Lai Châu trước thời gian quy định.

Bearcat F8F1 fighter planes from Mường Thanh airfield departing to attack Route 41
Bearcat F8F1 fighter planes from Mường Thanh airfield departing to attack Route 41Các máy bay chiến đấu Bearcats F8F1 từ sân bay Mường Thanh đi đánh phá đường 41

Ensuring sufficient and timely material for all the campaign's needs was the key to the success of logistics work6. Frontline logistics commander Nguyễn Thanh Bình recounted: By day, there were only a few silhouettes of people in the fields and some cattle grazing on the hillsides, like a deserted wasteland. When night fell, the roads were filled with trucks, civilian porters, and the lights of pack bicycles like shooting stars. Civilian porters from the lowlands and the highlands, the Tày and Nùng people carrying on shoulder poles, the Thái and Dao people carrying in back-baskets. The sound of engines, laughter, and working chants were bustling. The most crowded was the single road from Tuần Giáo to Điện Biên, where civilian porters of Zone 3 met those of Zone 4, the free zones met the temporarily enemy-occupied zones, infantry met engineers, and soldiers met performance troupes, greeting and laughing. Suddenly, hearing the sound of airplane engines, all lamps and torches were extinguished.

Bảo đảm vật chất đủ, kịp thời mọi nhu cầu cho chiến dịch là mấu chốt thành công của công tác hậu cần6. Chỉ huy hậu cần Hoả tuyến Nguyễn Thanh Bình kể: Ban ngày chỉ thấp thoáng mấy người trên nương, vài trâu bò gặm cỏ ở sườn đồi như một vùng hoang vắng. Khi đêm buông xuống thì đầy đường ô tô, dân công, đèn xe thồ như sao sa. Dân công miền xuôi, miền ngược, Tày, Nùng gánh, Thái, Dao gùi. Tiếng động cơ, tiếng nói cười, tiếng hò nhộn nhịp. Đông đúc nhất là tuyến đường độc đạo từ Tuần Giáo đến Điện Biên dân công Khu 3 gặp Khu 4, vùng tự do gặp vùng địch tạm chiếm, bộ binh gặp công binh, bộ đội gặp văn công chào hỏi, cười nói. Chợt nghe tiếng động cơ máy bay là đèn đuốc tắt hết.

Every night, on the Điện Biên front, the logistical war displayed two contrasting extremes: in the basin, hundreds of modern aircraft filled the sky dropping brilliant flares, releasing thousands of parachutes like falling snow to supply food and weapons to the French strongpoints. Just a few kilometers away, a massive human convoy with hundreds of trucks driving amidst tens of thousands of men and women, young and old, walking barefoot, carrying poles, hauling baskets, pushing pack bicycles, buffalo carts, horse carts, wheelbarrows, and sledges, intermingled with herds of strutting cattle and trotting pigs, resembling a medieval war2. Yet, while the modern vehicles and colossal volume of aid grew increasingly powerless against the enemy's firepower, the brutal might of fierce bombing could not stop the determination of impoverished citizens pooling their meager material resources to deliver them to the battlefield at all costs.

Hàng đêm, trên mặt trận Điện Biên, cuộc chiến hậu cần thể hiện hai thái cực trái ngược: trong lòng chảo, hàng trăm máy bay hiện đại lượn kín trời thả pháo sáng rực, đưa xuống hàng ngàn chiếc dù như mưa tuyết để tiếp tế lương thực, vũ khí xuống các cứ điểm quân Pháp. Chỉ cách đó vài km, một đoàn người khổng lồ hàng trăm ô tô chạy giữa hàng vạn đàn ông, đàn bà, trẻ có, già có,đi chân đất, gồng, gánh, gùi, đẩy xe thồ, xe trâu, xe ngựa, xe cút kít, xe quệt, chen vào là những đàn trâu bò nghênh ngang, những con lợn chạy lon ton như trong chiến tranh thời trung cổ2. Thế nhưng trong khi các phương tiện hiện đại và khối viện trợ đồ sộ ngày càng bất lực trước hoả lực đối phương thì sức mạnh tàn bạo của bom đạn ác liệt không cản nổi quyết tâm của những người dân nghèo khổ gom góp lượng vật lực nhỏ bé đem bằng được cho chiến trường.

37mm anti-aircraft artillery unit that shot down a B26 aircraft
37mm anti-aircraft artillery unit that shot down a B26 aircraftĐơn vị pháo 37mm bắn rơi máy bay B26

French General Y. Gras praised: "The entire nation found a solution to the logistics problem, and this solution defeated all calculations and expectations of the French General Staff"28. "...All available aircraft were used to attack the supply routes of Route 13 and Route 41. Yet, during reconnaissance and bombing flights, the pilots only saw monotonous, vast, and endless thick jungles. Flying over Viet Minh territory, they had a feeling of emptiness. Sometimes, in the blink of an eye, they caught a glimpse of a convoy of civilian porters on a winding road section. But instantly, the civilian porters abandoned their goods and scattered under the bushes. The aircraft turned around, bombing and strafing, but afterward, when the aircraft was out of sight, the "colony of ants" returned to their work... One would think that dropping hundreds of tons of bombs on dozens of locations could halt the pace of that endless stream of civilian porters. But right after the road was cut, they transshipped, opened bypasses, while a specialized force kept filling the bomb craters and repairing the road. Thus, around the cut sections, the road was multiplied into a network of bypasses, much like a river that one tries to dam, finding its flow again by winding around and transforming into streams. The French Air Force was powerless against the rudimentary nature of Viet Minh logistics: the road that never ends"34.

Tướng Pháp Y. Gras ca ngợi: “Cả dân tộc đã tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần và giải pháp này đã làm thất bại mọi toan tính cũng như dự kiến của Bộ tham mưu Pháp”28“…Toàn bộ máy bay có thể huy động đều được sử dụng vào việc tiến công con đường tiếp tế đường 13 và đường 41. Thế nhưng trong các chuyến bay trinh sát cũng như ném bom, các phi công chỉ thấy toàn là rừng rậm đơn điệu, bạt ngàn vô tận. Bay trên lãnh thổ của Việt Minh, họ có cảm giác về một sự trống rỗng. Đôi khi trong chớp mắt, họ bắt chợt bắt gặp một đoàn dân công trên một đoạn đường vòng. Nhưng ngay lập tức dân công bỏ lại hàng hoá và chạy tản ra dưới các lùm cây. Máy bay quay lại, ném bom bắn phá, nhưng sau đó, khi máy bay đã đi khuất “đàn kiến” lại trở về với công việc... Người ta nghĩ ràng trút hàng trăm tấn bom xuống hàng chục địa điểm có thể ngăn chặn bước đi của dòng dân công bất tận đó. Nhưng ngay sau khi con đường bị cắt đứt thì họ đã chuyển tải, mở những đường đi vòng, trong lúc một lực lượng chuyên trách cứ lấp các hố bom và sửa chữa con đường. Thế là chung quanh những quãng đường bị cắt, con đường đương được nhân lên thành một mạng đường vòng giống như một con sông mà người ta cố ngăn chăn, lại tìm được dòng chảy của nó bằng cách uốn quanh và biến thành những con suối. Không quân Pháp đã bất lực trong việc chống lại sự thô sơ của hậu cần Việt Minh: con đường không bao giờ dứt34.”

Motorized transport forces playing a key role in battlefield transportation
Motorized transport forces playing a key role in battlefield transportationLực lượng vận tải cơ giới đóng vai trò chủ lực trong vận tải chiến trường
A line of Vietnamese supply workers pushing heavily loaded modified bicycles (xe đạp thồ) along a dirt road
A line of Vietnamese supply workers pushing heavily loaded modified bicycles (xe đạp thồ) along a dirt roadA line of Vietnamese supply workers pushing heavily loaded modified bicycles (xe đạp thồ) along a dirt road

The French Commander-in-Chief in Indochina, Navarre, wrote: "Attacking the communication routes yielded disappointing results from beginning to end because the Viet Minh overcame the obstacle of road cuts, repairing them very quickly in all circumstances, making our efforts impossible to realize. We did not prevent or – at least slow down – the deployment of the enemy's Army Corps around Điện Biên Phủ, and we did not slow down the enemy's steady supply. The inadequacy of our means was the main cause of this failure. Ultimately, the clever camouflage and dispersal of the Viet Minh, their adaptability, and their talent for rapid road repair upon destruction made the air force's mission even more complex. Thus, lacking means and dependent on its deployment, the air force did not play a decisive role in any phase of the war"1.

Tổng chỉ huy Pháp ỏ Đông Dương Nava viết: “Tấn công các đường giao thông đã đem lại từ đầu chí cuối những kết quả thất vọng nguyên do Việt Minh đã vượt trở ngại việc cắt đường, họ sửa rất nhanh trong mọi trường hợp khiến ta không thực hiện được. Chúng ta đã không ngăn chặn hay –ít nhất làm chậm lại – sự bố trí của Quân đoàn địch quanh Điện Biên Phủ, ta đã không làm chậm lại việc tiếp tế đều đặn của địch. Sự yếu kém về phương tiện của ta là nguyên nhân chính của sự thất bại này.Sau cùng cách ngụy trang khéo léo và phân tán của Việt Minh, khả năng thích hợp, tài sửa đường nhanh chóng khi bị phá hủy khiến cho nhiệm vụ không quân càng phức tạp hơn. Như thế, thiếu phương tiện và sự lệ thuộc vào việc xử dụng, không quân đã không đóng vai trò quyết định trong bất cứ giai đoạn nào của cuộc chiến1.”